Sau bản án, người được thi hành án có quyền đồng ý giảm một phần số tiền, bỏ khoản lãi chậm thi hành án hoặc bỏ một khoản bồi thường phụ, đổi lại được trả nhanh hơn hoặc chắc chắn hơn. Đây là quyền tự định đoạt của bên có quyền lợi, chỉ áp dụng với các khoản dân sự giữa hai bên; án phí, tiền phạt và khoản nộp ngân sách thì không giảm được bằng thoả thuận.
Câu hỏi thực tế không phải là "có được giảm không" mà là "giảm bao nhiêu thì hợp lý" và "viết thế nào để không thiệt". Bài này giải thích khoản lãi chậm thi hành án là gì, vì sao nhiều chủ nợ chịu giảm, cách so sánh các phương án bằng ví dụ giả định, các kiểu giảm hay gặp và cách viết giảm có điều kiện. Góc nhìn đi từ cả hai phía: người đề nghị giảm và người cân nhắc có nên đồng ý.
Lãi chậm thi hành án là khoản gì
Với các bản án buộc trả tiền, phần quyết định thường có thêm một câu về lãi: kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa trả xong thì còn phải trả thêm khoản tiền lãi trên số tiền chậm trả, theo mức lãi suất mà Bộ luật Dân sự quy định. Khoản này thường được gọi là lãi chậm thi hành án.
Lãi chậm thi hành án không phải là lãi của khoản vay ban đầu, cũng không phải tiền phạt. Nó bù đắp cho việc người được thi hành án phải chờ tiền trong thời gian thi hành. Cách tính cụ thể, mốc bắt đầu tính và mức lãi suất áp dụng phụ thuộc vào câu chữ của chính bản án và quy định hiện hành; bạn nên đọc kỹ phần quyết định và hỏi chấp hành viên cách cơ quan thi hành án đang tính cho hồ sơ của mình.
Vì lãi chạy theo thời gian, khoản này có thể trở nên đáng kể nếu việc thi hành kéo dài nhiều năm. Đây vừa là đòn bẩy của người được thi hành án, vừa là lý do người phải thi hành án muốn thoả thuận sớm: càng để lâu, số phải trả càng lớn.
Một điểm hay bị bỏ qua: nếu bản án không tuyên về lãi chậm thi hành án, chấp hành viên không tự tính thêm. Muốn biết hồ sơ của mình có khoản này hay không, hãy đọc lại phần quyết định, đừng dựa vào lời kể của người khác.
Vì sao người thắng kiện chịu giảm
Tiền thật đến sớm. Một khoản nhận đủ trong ba tháng thường có giá trị hơn một khoản lớn hơn nhưng phải chờ qua kê biên, định giá, đấu giá. Với hộ kinh doanh đang cần vốn quay vòng, thời gian là tiền.
Tránh rủi ro tài sản bán dưới giá. Đấu giá không thành thì giá khởi điểm có thể giảm qua nhiều lần. Có khi số tiền thu được sau cùng còn thấp hơn mức giảm mà người phải thi hành án từng đề nghị.
Tránh thời gian xác minh kéo dài. Nếu người phải thi hành án không có tài sản đứng tên rõ ràng, hồ sơ có thể nằm ở trạng thái chưa có điều kiện thi hành. Một đề nghị trả bằng nguồn tiền của người thân đôi khi là cơ hội duy nhất trong nhiều năm.
Chi phí và công sức. Mỗi lần làm việc với cơ quan thi hành án, mỗi lần đi xác minh, mỗi lần khiếu nại đều tốn thời gian của chính người được thi hành án. Phí thi hành án khi nhận tiền cũng tính trên số thực nhận, nên con số cuối cùng cầm về cần được nhìn tổng thể.
Giữ quan hệ. Giữa người quen, họ hàng, bạn làm ăn, một khoản giảm hợp lý đôi khi mở lại được quan hệ mà một cuộc cưỡng chế sẽ đóng hẳn.
Cân đo phương án bằng ví dụ giả định
Ví dụ giả định dưới đây chỉ để minh hoạ cách nghĩ, không phản ánh mức phí hay chi phí thật của bất kỳ hồ sơ nào. Bản án tuyên trả ba trăm triệu đồng; người phải thi hành án có một chiếc xe tải cũ và nguồn thu nhập không ổn định:
| Phương án | Số dự kiến nhận | Thời gian dự kiến | Rủi ro chính |
|---|---|---|---|
| Để chấp hành viên cưỡng chế, kê biên và đấu giá xe | Tuỳ giá đấu, có thể thấp hơn nhiều so với ba trăm triệu | Nhiều tháng, có thể kéo dài nếu đấu giá không thành | Xe mất giá, phát sinh chi phí, phần còn thiếu chưa chắc đòi được |
| Thoả thuận giảm một phần, trả một lần trong một tháng | Thấp hơn ba trăm triệu một khoản cố định, nhận ngay | Khoảng một tháng | Người phải thi hành án vay mượn không kịp |
| Thoả thuận không giảm, trả dần mười hai tháng | Đủ ba trăm triệu nếu trả đủ | Một năm | Bỏ ngang giữa chừng, phải quay lại cưỡng chế |
| Thoả thuận giảm có điều kiện, trả dần sáu tháng | Thấp hơn chút nếu trả đúng hạn; đủ theo bản án nếu vi phạm | Sáu tháng | Cân bằng, nhưng cần viết rõ điều kiện |
Khi cân đo, hãy tự hỏi ba câu: tài sản của bên kia nếu bán thì được bao nhiêu và mất bao lâu; nguồn tiền bên kia đề nghị trả có thật không; và mình cần tiền vào lúc nào. Câu trả lời cho ba câu này quan trọng hơn con số giảm bao nhiêu phần trăm.
Các kiểu giảm thường gặp
Thực tế có vài cách giảm khác nhau, mỗi cách hợp với một hoàn cảnh:
- Bỏ lãi chậm thi hành án, giữ nguyên gốc: phổ biến nhất, vì người được thi hành án vẫn nhận đủ khoản đã mất.
- Giảm một phần gốc để nhận một lần: hợp khi bên kia gom được tiền mặt từ người thân hoặc bán tài sản tự nguyện.
- Bỏ khoản bồi thường phụ: ví dụ bản án tuyên cả khoản bồi thường chi phí đi lại, chi phí phát sinh; hai bên thống nhất bỏ để chốt nhanh khoản chính.
- Giảm theo tiến độ: trả càng sớm giảm càng nhiều, ví dụ trả đủ trong tháng đầu được giảm nhiều hơn trả đủ trong ba tháng.
- Giảm có điều kiện: phần giảm chỉ có hiệu lực khi người phải thi hành án trả đủ và đúng lịch; vi phạm thì quay về bản án.
- Đổi phần giảm lấy bảo đảm: người được thi hành án giảm, đổi lại có người bảo lãnh ký cam kết hoặc giữ nguyên một biện pháp bảo đảm cho tới khi trả xong.
Có thể kết hợp nhiều kiểu: bỏ lãi chậm thi hành án, đồng thời giảm thêm một phần gốc nếu trả đủ trong thời hạn ngắn. Điều quan trọng là mỗi phần giảm gắn với một điều kiện rõ ràng.
Viết giảm có điều kiện thế nào cho chặt
Câu cốt lõi nên có trong văn bản: phần giảm chỉ có hiệu lực khi người phải thi hành án trả đủ số tiền đã thoả thuận theo đúng lịch; nếu vi phạm, người được thi hành án có quyền yêu cầu thi hành phần còn lại theo nội dung bản án, sau khi trừ số đã trả. Câu này giải quyết trước gần hết tranh chấp có thể xảy ra.
Kèm theo nên ghi rõ phần giảm là khoản nào: lãi chậm thi hành án tính đến ngày nào, gốc giảm bao nhiêu, khoản bồi thường nào bị bỏ. Nếu chỉ ghi "giảm năm mươi triệu" mà bản án có nhiều khoản, khi đổ vỡ hai bên sẽ cãi nhau xem năm mươi triệu đó trừ vào đâu.
Nếu người được thi hành án là vợ chồng hoặc nhiều người cùng được thi hành chung một bản án, mọi người có quyền lợi cần cùng đồng ý phần giảm. Một người không thể tự giảm phần của người khác. Tương tự, người đi thay theo uỷ quyền chỉ được đồng ý giảm nếu văn bản uỷ quyền cho phép rõ việc đó.
Cuối cùng, khi bên kia đã trả đủ theo thoả thuận, người được thi hành án nên phối hợp xác nhận với cơ quan thi hành án rằng nghĩa vụ đã hoàn thành theo thoả thuận, để hồ sơ được khép và người phải thi hành án không bị đòi lại phần đã được giảm.
Người phải thi hành án đề nghị giảm sao cho được nghe
Nếu bạn là bên thua kiện và muốn xin giảm, cách đề nghị quyết định nhiều tới kết quả. Một trình tự hợp lý:
- Tính chính xác số đang nợ theo bản án, gồm cả lãi chậm thi hành án nếu có, và số đã trả. Đề nghị dựa trên con số sai sẽ mất lòng tin ngay từ đầu.
- Chuẩn bị nguồn tiền cụ thể: vay người thân bao nhiêu, bán tài sản nào, thu nhập hằng tháng còn bao nhiêu sau chi tiêu thiết yếu.
- Đưa ra phương án có lợi thật cho bên kia, thường là trả nhanh hơn hoặc trả một lần, chứ không chỉ xin bớt.
- Chấp nhận điều kiện: phần giảm mất nếu mình vi phạm. Điều này cho bên kia thấy thiện chí.
- Đề nghị làm việc có chấp hành viên chứng kiến để thoả thuận nằm trong hồ sơ.
- Giữ lời ngay từ đợt đầu. Đợt đầu trả đúng hạn có sức thuyết phục hơn mọi lời hứa.
Những chỗ cần cẩn thận khi giảm nợ
Khoản nộp ngân sách không giảm theo. Người được thi hành án giảm phần của mình không làm thay đổi án phí hay tiền phạt mà người phải thi hành án phải nộp. Người thua kiện cần tính cả các khoản này khi lên kế hoạch tài chính.
Không giảm thay cho người khác. Khi cùng một người phải thi hành án nợ nhiều chủ nợ, mỗi chủ nợ chỉ quyết định phần của mình. Thoả thuận giữa một chủ nợ với người phải thi hành án không được làm thiệt các chủ nợ còn lại.
Tránh thoả thuận "giảm" để che giao dịch khác. Thoả thuận ghi giảm nợ nhưng thực tế có khoản tiền chuyển ngược lại, hoặc có tài sản chuyển ra ngoài để né chủ nợ khác, có thể bị coi là giả tạo và gây trách nhiệm pháp lý cho cả hai bên.
Ghi rõ đã giảm là xong phần nào. Câu "hai bên không còn khiếu nại gì" chỉ nên dùng khi người được thi hành án đã nhận đủ phần thoả thuận. Ký câu này khi chưa nhận tiền là tự tước quyền của mình.
Hỏi về phí khi nhận tiền. Người được thi hành án nên hỏi chấp hành viên phí thi hành án sẽ được tính thế nào trên số thực nhận theo thoả thuận, để biết con số cuối cùng mình cầm về.
Câu hỏi thường gặp
Người thắng kiện có quyền giảm nợ cho bên thua sau bản án không?
Có. Người được thi hành án có quyền tự định đoạt các khoản dân sự của mình, kể cả giảm một phần hay bỏ lãi chậm thi hành án, miễn là không làm thiệt người thứ ba. Án phí, tiền phạt thì không giảm được bằng thoả thuận.
Lãi chậm thi hành án có phải lúc nào cũng có không?
Không. Khoản lãi này chỉ có khi bản án hoặc quyết định tuyên về nó, thường là với các nghĩa vụ trả tiền và tính từ khi có đơn yêu cầu thi hành án. Hãy đọc phần quyết định của bản án và hỏi chấp hành viên cách tính cho hồ sơ của mình.
Giảm có điều kiện là gì?
Là thoả thuận mà phần giảm chỉ có hiệu lực khi người phải thi hành án trả đủ và đúng lịch. Nếu vi phạm, người được thi hành án có quyền yêu cầu thi hành phần còn lại theo bản án sau khi trừ số đã trả. Đây là cách viết cân bằng cho hai bên.
Vợ chồng cùng được thi hành án thì một người có tự đồng ý giảm được không?
Không nên. Khi nhiều người cùng có quyền lợi trong một khoản, phần giảm cần có sự đồng ý của tất cả những người có quyền. Một người chỉ quyết định phần của mình, hoặc phần của người khác nếu được uỷ quyền rõ ràng.
Đã giảm nợ rồi thì phí thi hành án tính trên số nào?
Nguyên tắc chung là phí thi hành án tính trên số tiền, tài sản người được thi hành án thực nhận. Mức phí và các trường hợp không thu, miễn, giảm có quy định riêng, nên hỏi chấp hành viên để biết con số cụ thể cho hồ sơ của bạn.
Bên thua kiện nên đề nghị giảm như thế nào?
Nên tính đúng số đang nợ, chuẩn bị nguồn tiền cụ thể, đưa ra phương án trả nhanh hoặc trả một lần, chấp nhận điều kiện mất phần giảm nếu vi phạm, và đề nghị làm việc có chấp hành viên chứng kiến. Trả đúng đợt đầu là cách tạo lòng tin tốt nhất.